ThS.BS. Nguyễn Trương Minh Thế
Giảng viên ĐH Y Dược TP. HCM
"Phó Sơn, tự Thanh Chủ, hiệu Công Tha, người huyện Khúc Dương, tỉnh Sơn Tây, là một danh y nổi tiếng cuối đời Minh đầu đời Thanh. Thành tựu y học của ông đặc biệt nổi bật trong lĩnh vực phụ khoa. Cuốn sách 'Phụ Khoa của Phó Thanh Chủ' là tác phẩm tiêu biểu của ông. Ông có nhiều phát minh trong việc điều trị các chứng bệnh phụ khoa như kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén và sinh sản. Dưới đây là những nhận thức mới của tác giả về phương thuốc Sinh hóa thang do ông sáng chế.
Kế thừa và phát triển Sinh hóa thang
Trong các sách 'Thương hàn luận' và 'Kim quỹ yếu lược' của Trương Trọng Cảnh, các phương thuốc như Để đương thang, Để đương hoàn, Đào nhân thừa khí thang, Hạ ứ huyết thang đều có công hiệu tấn công và trục ứ huyết ở vùng bụng dưới. Phó Thanh Chủ, trên cơ sở kế thừa và phát huy tâm pháp của Trọng Cảnh, đã sáng chế ra phương thuốc chuyên dùng cho phụ nữ sau sinh là Sinh hóa thang, dựa trên đặc điểm đa hư, đa ứ của sản phụ sau sinh. Phương thuốc này gồm có toàn Đương quy 30 g, Xuyên khung 12 g, Đào nhân (bỏ vỏ và đầu nhọn) 8 g, Bào khương 2 g, chích Cam thảo 2 g, rượu và đồng tiện mỗi thứ một nửa, sắc uống. Trong phương thuốc này không dùng các vị phá huyết hạ ứ như Thủy điệt, Manh trùng, Thổ nguyên, Đại hoàng, Mang tiêu, mà dùng các vị thuốc như Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, rượu, đồng tiện để dưỡng huyết ích âm, hành khí hóa ứ, từ từ tiêu ứ huyết ở bụng dưới của sản phụ sau sinh. Như Phó Thanh Chủ đã nói: “Chứng này không nên câu nệ vào phương thuốc cổ, không nên dùng bừa các vị thuốc như Tô mộc, Tam lăng để tránh nguy hiểm đến tính mạng. Các phương thuốc tán huyết, phá huyết đều cấm dùng. Dù Sơn tra có tính chất nhẹ nhàng nhưng cũng có thể gây hại, không nên tự ý dùng, chỉ có Sinh hóa thang là thánh dược cho huyết khối.”

Phương thuốc Thiếu phúc trục ứ thang do Vương Thanh Nhậm sáng chế chủ trị ứ huyết ở bụng dưới, biểu hiện bằng đau bụng dưới, tích khối, đầy trướng, băng lậu, vô sinh, có thể chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng học thuật của Phó Thanh Chủ về việc từ từ tiêu ứ huyết ở bụng dưới. Trong phương thuốc này cũng không dùng các vị phá huyết hạ ứ như Thủy điệt, Manh trùng, Thổ nguyên, Đại hoàng, Mang tiêu mà chọn dùng mười vị thuốc như Tiểu hồi hương sao, Bào khương, Diên hồ sách, Một dược, Đương quy, Xuyên khung, Quan quế, Xích thược, Bồ hoàng, Ngũ linh chi sao, tạo thành phương thuốc ôn trục ứ huyết ở bụng dưới. Do Thiếu phúc trục ứ thang chủ trị không phải là ứ huyết ở bụng dưới sau sinh, mà chủ yếu là do hàn ngưng khí trệ huyết ứ gây ra, nên thêm các vị cay ấm như Tiểu hồi hương, Nhục quế để giúp Bào khương tán hàn ôn thông huyết mạch, thêm Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Diên hồ sách, Một dược để giúp Đương quy, Xuyên khung hoạt huyết lý khí.
Sinh hóa thang của Phó Thanh Chủ kế thừa Trọng Cảnh, phát triển đến Thanh Nhậm, có sự sáng tạo độc đáo, chuyên dùng cho chứng ứ huyết ở bụng dưới sau sinh. Trương Phụng Tường trong lời tựa của cuốn “Phụ Khoa của Phó Thanh Chủ” đã khen ngợi rằng: 'Từ khi Trương Trọng Cảnh sáng lập phương thuốc từ thời Hậu Hán đến nay, đã hai nghìn năm, các danh y chuyên môn hiếm có ai hiểu thấu đáo. Tiên sinh với công việc dư thừa đã thông suốt đến mức thần kỳ.'"
Sinh hóa thang không chỉ dùng cho chứng hư
Phó Thanh Chủ dựa vào đặc điểm sau sinh thường hư, khi dùng thuốc để trục huyết ứ ở bụng dưới sau sinh, ông dùng thuốc thuần hòa, do đó dùng nhiều Đương quy phối hợp với một lượng nhỏ Xuyên khung, Đào nhân, rượu, đồng tiện, v.v., bổ huyết hoạt huyết mà không hao tổn khí huyết. Khi khí huyết hư nhược, thì thêm Nhân sâm, Hoàng kỳ, Đảng sâm, Thục địa, Đại táo, v.v. để bổ ích khí huyết; khi Tỳ Vị hư nhược, thì thêm Sơn dược, Bạch truật, Khiếm thực, Liên tử, v.v. để kiện Tỳ ích khí; khi dương khí suy hư, thì thêm Phụ tử, Nhục quế, Can khương, v.v. để ôn dương tán hàn; khi huyết băng hình thoát, khí gấp mồ hôi ra, thì thêm Nhân sâm, Sinh mạch tán, Sơn thù du, Ô mai thán, v.v. để ích khí cố thoát. Khi Phó dùng Tam lăng, Nga truật, Tô mộc, Hồng hoa, bồ hoàng, Ngũ linh chi, Diên hồ sách, Hoài Ngưu tất, sinh Sơn tra, v.v. để phá huyết trục ứ, khi dùng Hương phụ, Mộc hương, Sa nhân, Chỉ xác, Trần bì, Thanh bì, Đại phúc bì, Ô dược, Hậu phác, Chỉ thực, Binh lang, Tô tử, v.v. để hành khí phá khí, khi dùng bào Phụ tử, Nhục quế, Ngô thù du, Bạch đậu khấu, Sa nhân, Xuyên tiêu, Ngải diệp, Sinh khương, v.v. để ôn táo hao huyết động huyết, khi dùng Kinh giới, Phòng phong, Khương hoạt, Bạch chỉ, Tế tân, v.v. để tân ôn phát tán hao khí, khi dùng Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá, Chi tử, Đại hoàng, Mang tiêu, v.v. để khổ hàn tả hạ, đều rất cẩn thận, dùng lượng rất nhẹ, đa số không quá 4 gram. Ông nói: “Cẩn thận không dùng thuốc mạnh, không uống nhiều rượu Gừng tiêu ngải, thường xuyên uống Sinh hóa thang, hành khí trợ huyết, nếu dùng Hồng hoa để hành, Tô mộc, Ngưu tất để công, thì sai. Khi thai khí trướng, dùng Ô dược, Hương phụ để thuận, Chỉ xác, Hậu phác để thư, nếu nặng thì dùng Thanh bì, Chỉ thực, Tô tử để hạ khí định suyễn; Hoàng cầm, Hoàng liên, Chi tử, Hoàng bá để hạ nhiệt trừ phiền. Nếu huyết kết nặng hơn, lại dùng Thừa khí thang để hạ mà càng kết; mồ hôi nhiều tiểu tiện ngắn rít, lại dùng Ngũ linh tán để thông mà càng bí, không chỉ không có lợi, mà còn hại.”
Tuy nhiên, thể chất phụ nữ hiện đại đã có sự thay đổi lớn, sau sinh chưa chắc đã hư. Có một số phụ nữ sau sinh thể chất tráng kiện, mạch tượng trầm thực hữu lực. Vì vậy, hiện nay khi dùng Sinh hóa thang không nên câu nệ vào nói sau sinh thường hư, vừa phải cân nhắc đến phụ nữ sau sinh thường hư, lại không nên câu nệ vào sau sinh thường hư. Khi cụ thể dùng Sinh hóa thang, lượng Đương quy cũng chưa chắc đã nhiều, lượng Xuyên khung, Đào nhân, Bào khương, v.v. cũng chưa chắc đã ít. Khi gia giảm biến hóa, phá huyết trục ứ, hành khí phá khí, ôn dương tán hàn, tân ôn phát tán, khổ hàn táo thấp, v.v. thuốc nên dùng thì dùng, lượng dùng cũng chưa chắc đã vài phân. Các phương chứng Để đương thang, Để đương hoàn, Đào hạch thừa khí thang, Hạ ứ huyết thang của Trương Trọng Cảnh, các vị Thủy điệt, Mãng trùng, Thổ nguyên, Đại hoàng, Mang tiêu cũng có thể chọn dùng theo bệnh tình.
Sinh hóa thang không chỉ dùng cho chứng hàn
Trong phương thuốc Sinh hóa thang, các vị thuốc như Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Bào khương, Cam thảo chích, rượu đều có tính ấm, đặc biệt là Bào khương và rượu có tác dụng ôn kinh tán hàn, hành huyết tán huyết. Vì vậy, Sinh hóa thang chủ trị chứng hàn ngưng huyết ứ ở bụng dưới sau sinh. Tuy nhiên, do môi trường sống và thói quen ăn uống của phụ nữ hiện đại đã thay đổi nhiều, nên sau sinh huyết ứ ở bụng dưới chưa chắc đã kèm theo hàn. Ngược lại, nhiều phụ nữ sau sinh huyết ứ ở bụng dưới kèm theo nhiệt tà và thấp nhiệt, biểu hiện là lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhờn, mạch sác hoặc hoạt sác hoặc nhu sác hữu lực. Vì vậy, khi dùng Sinh hóa thang hiện nay không nên câu nệ vào nói sau sinh thường hàn, mà phải phân tích cụ thể từng bệnh chứng, vừa phải cân nhắc đến phụ nữ sau sinh thường hàn, lại không nên câu nệ vào sau sinh thường hàn. Nếu thực sự kèm theo nhiệt tà, nên bỏ Bào khương, Cam thảo chích, rượu và thêm Đan bì, Chi tử, Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh, Huyền sâm, sinh Cam thảo, v.v.; nếu thực sự kèm theo thấp nhiệt, nên bỏ Bào khương, Cam thảo chích, rượu và thêm Sinh ý dĩ, Bại tương thảo, Bồ công anh, Ngư tinh thảo v.v., thậm chí Hoàng cầm, Hoàng liên, Hoàng bá, Chi tử, Đại hoàng, Mang tiêu cũng có thể dùng tùy theo bệnh tình.
Sinh hóa thang có thể trị bệnh chưa phát
Ở một số nơi, phụ nữ sau sinh dù không có triệu chứng gì cũng thường được cho uống Sinh hóa thang. Uống Sinh hóa thang sau sinh từ 2 - 3 thang thực sự có thể giúp tử cung hồi phục, giảm nhiều bệnh sau sinh, có tác dụng phòng bệnh từ trước. Hiện nay, một số bác sĩ thường không hỏi han về hàn nhiệt hư thực, mà cứ dùng nguyên phương Sinh hóa thang, điều này không đúng. Uống Sinh hóa thang sau sinh để phòng bệnh cần phải biện chứng luận trị. Có thể dùng Sinh hóa thang gia giảm để trị bệnh chưa phát: Đương quy 5 g, Xuyên khung 5 g, Đào nhân 5 g, Ích mẫu thảo 10 g, Sơn tra sao 10 g. Nếu lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế nhược, sắc mặt vàng úa, là khí huyết hư, thiên về hàn thì thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Đại táo, Câu kỷ tử, Sơn thù du, v.v.; thiên về nhiệt thì thêm ây dương sâm, Sa sâm, Mạch môn, Thạch hộc, Ngọc trúc, Ngũ vị tử, v.v.; nếu lưỡi nhạt, rêu trắng nhuận, mạch trầm khẩn vô lực, là dương khí hư, thì thêm Tiên linh tỳ, Ba kích thiên, Tiên mao, Thỏ ty tử, Can khương, Quế chi, v.v. để ôn dương tán hàn; nếu lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm khẩn hữu lực, là hàn tà xâm nhập, thì thêm Ngải diệp, Tô diệp, Tiểu hồi hương, Ô dược, v.v. để trừ phong tán hàn; nếu lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác hữu lực, là Tâm Can hỏa vượng, thì thêm Đan bì, Sài hồ, Liên kiều, Chi tử, Bồ công anh, Cam thảo, v.v. để thanh nhiệt tả hỏa; nếu lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhờn, mạch nhu sác, là thấp nhiệt hạ chú, thì thêm sinh Ý dĩ, Bại tương thảo, Ngư tinh thảo, Bạch hoa xà thiệt thảo, v.v.; nếu lưỡi tối, mạch huyền sáp, bụng dưới đau khi ấn, là huyết ứ trở trệ, thì thêm Trạch lan, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Hồng hoa, v.v. Thông qua biện chứng luận trị, làm cho phù hợp hơn với nhu cầu phòng bệnh của phụ nữ sau sinh.

Sinh hóa thang trị bệnh tình chí
Sau sinh, huyết ứ ở bụng dưới gây ra nhiều chứng bệnh xấu, trong đó dễ bị chẩn đoán và điều trị sai nhất là các bệnh tình chí như cuồng loạn, buồn bã, trầm cảm, nói năng lảm nhảm, ảo giác. Vì hầu hết các bác sĩ thường bắt đầu từ tình chí, hoặc xem xét các chứng Tâm Can hỏa vượng, đàm nhiệt nhiễu Tâm, Can khí uất kết, Tâm Tỳ lưỡng hư, dễ bỏ qua các bệnh tình chí do huyết ứ ở bụng dưới sau sinh gây ra. Phó Thanh Chủ đã sáng tạo ra phương thuốc An tâm thang để trị chứng huyết ứ công Tâm gây cuồng loạn sau sinh, gồm các vị thuốc: Đương quy 80 g, Xuyên khung 40 g, Sinh địa 20 g (sao), Đan bì 20 g (sao), sinh Bồ hoàng 8 g, một lá sen khô. Ông nói: “Phụ nữ sau sinh hai, ba ngày, phát sốt, sản dịch không ra, huyết ứ công Tâm, nói năng lảm nhảm, kêu la, thậm chí muốn chạy nhảy, không yên, người ta cho rằng do nhiệt tà ở Vị, ai ngờ là do huyết hư Tâm không được nuôi dưỡng… Dùng một thang mà cuồng định, sản dịch cũng ra. Phương này dùng Xuyên khung, Đương quy để dưỡng huyết, sao lại dùng Sinh địa, Đan bì để lương huyết, dường như không hợp với sau sinh? Không biết rằng sản dịch công Tâm là do nhiệt hư tương phạm, nên bổ trung có lương, mà lương không gây hại, hơn nữa thêm lá sen, thất khiếu thông nhau, dẫn tà ra ngoài, không chỉ không hại Tâm, mà còn giúp Bồ hoàng phân giải sản dịch. Nhưng chỉ nên dùng tạm để định cuồng, không nên dùng nhiều để tránh hậu quả. Sau khi uống thuốc cuồng định, nên uống Gia vị Sinh hóa thang: Đương quy (rửa rượu) 44 g, Xuyên khung 12 g, Đào nhân (nghiền) 6 g, Kinh giới tuệ (sao cháy) 4 g, Đan bì 6 g, uống 4 thang là tốt”.
Sinh hóa thang cần chú trọng phúc chẩn (khám bụng)
Phụ nữ sau sinh thường do sản dịch không ra hết, dẫn đến huyết ứ tích tụ ở bụng dưới. Nếu lại sớm uống lạnh hoặc cảm lạnh, hàn xâm nhập vào tử cung, càng dễ dẫn đến huyết ứ ở bụng dưới. Khi huyết ứ ở bụng dưới hình thành, sẽ cản trở khí cơ, ảnh hưởng đến sự thăng giáng xuất nhập của khí cơ toàn thân và chức năng sinh lý bình thường của tạng phủ, dẫn đến nhiều biến chứng, Phó Thanh Chủ gọi đó là "hoại chứng". Nếu ảnh hưởng đến Tâm, chức năng chủ thần minh và chủ huyết mạch của Tâm bị rối loạn, xuất hiện các chứng cuồng loạn, nói năng lảm nhảm, hồi hộp, chóng mặt, hôn mê, trúng phong, chứng quyết, v.v.; nếu ảnh hưởng đến Can, chức năng chủ sơ tiết và chủ cân mạch của Can bị rối loạn, xuất hiện các chứng giận dữ, co giật, v.v.; nếu ảnh hưởng đến Phế, chức năng chủ tuyên phát và chủ túc giáng của Phế bị rối loạn, xuất hiện các chứng ho, khó thở, v.v.; nếu ảnh hưởng đến Tỳ Vị, chức năng vận hóa và thăng thanh giáng trọc của Tỳ Vvị bị rối loạn, xuất hiện các chứng đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, tích thực, tiêu chảy, thức ăn không tiêu, lỵ, táo bón, v.v.; nếu ảnh hưởng đến sự lưu thông của dinh vệ, dễ bị ngoại cảm xâm nhập gây cảm lạnh, sốt, v.v.; ngoài ra còn có thể thấy các chứng sản dịch không ra hết, băng huyết, ra mồ hôi sau sinh, chảy máu sau sinh, sảy thai thường xuyên, v.v.

Mặc dù Phó Thanh Chủ ghi chép nhiều hoại chứng, nhưng cơ chế bệnh cơ bản nhất là do huyết ứ ở bụng dưới sau sinh gây ra, nên biểu hiện lâm sàng là sản dịch ít, đau bụng dưới, cảm giác lạnh ở bụng dưới, có tiền sử cảm lạnh hoặc uống lạnh sau sinh. Do thể chất của bệnh nhân khác nhau, mức độ tích tụ huyết ứ ở bụng dưới khác nhau, tiêu chuẩn sản dịch khác nhau, mức độ cảm giác lạnh ở bụng dưới khác nhau, mức độ cảm lạnh hoặc uống lạnh khác nhau, nên triệu chứng tự cảm nhận của bệnh nhân có thể không điển hình. Tuy nhiên, chỉ cần có huyết ứ ở bụng dưới, sẽ có biểu hiện đau khi ấn. Phó Thanh Chủ nói: “Phụ nữ sau sinh đau bụng dưới, nặng thì kết thành một khối, ấn vào càng đau, người ta cho rằng đó là đau do đầu con đè lên, ai ngờ là do huyết ứ gây ra! Đầu con đè lên không đau, sao lại đau khi sinh con? Không phải do đầu con, mà là do huyết ứ chưa tan, kết thành khối mà đau”. Vì vậy, đau rõ rệt khi ấn bụng dưới là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán huyết ứ ở bụng dưới sau sinh. Do đó, để sử dụng tốt Sinh hóa thang, cần chú trọng phúc.
Sinh hóa thang cần linh hoạt gia giảm
Phó Thanh Chủ có câu “Các chứng nguy hiểm sau sinh nên thường xuyên uống Sinh hóa thang, gia giảm theo triệu chứng”, nên khi ứng dụng lâm sàng Sinh hóa thang để điều trị các hoại chứng do huyết ứ ở bụng dưới sau sinh, cần linh hoạt gia giảm, không nên cứng nhắc. Chỉ khi phù hợp với nhu cầu bệnh tình hiện tại, mới có thể đạt hiệu quả tốt.
Người ít nói, mệt mỏi, yếu đuối, có thể thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Nhân sâm để bổ ích nguyên khí; táo bón, có thể thêm Nhục thung dung, Hà thủ ô, Bạch thược, Hỏa ma nhân, Úc lý nhân để dưỡng âm, nhuận tràng thông tiện; đầy bụng, đau bụng, có thể thêm Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Đại phúc bì, Hương phụ, Mộc hương, Sa nhân, Binh lang sao để kiện tỳ lý khí tiêu trướng; tiêu chảy, phân lỏng, có thể thêm sinh Sơn dược, Khiếm thực, Liên nhục, Ý dĩ sao, Phục linh để kiện Tỳ lợi thấp chỉ tả; thức ăn không tiêu, có thể thêm Bổ cốt chỉ, Can khương, Nhục đậu khấu, Ích trí nhân, Nhục quế để ôn bổ Tỳ Thận; hồi hộp, có thể thêm Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục thần, Toan táo nhân, Bá tử nhân, Viễn chí, Thạch xương bồ, Mạch môn, Long nhãn nhục để kiện Tỳ ích khí, dưỡng Tâm an thần; băng huyết, khó thở, ra mồ hôi, có thể thêm Nhân sâm, Sinh mạch tán, Sơn thù du, Ô mai thán, Bồ hoàng thán, Kinh giới thán, Tam thất, A giao, Tiên hạc thảo để ích khí chỉ huyết, liễm hãn cố thoát; chứng quyết sau sinh, ra mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, hôn mê, có thể thêm Nhân sâm, Bào phụ tử, Nhục quế, Sơn thù du, Ngũ vị tử để ích khí cố thoát, hồi dương cứu nghịch.
Chóng mặt, đau đầu, có thể thêm Kinh giới, Sài hồ, Thăng ma, Cát căn, Đại táo, Cương tằm, Thiền thoái để thăng phát thanh dương; đau lạnh dạ dày, có thể thêm Bạch đậu khấu, Sa nhân, Cao lương khương, Can khương, Ô dược để tán hàn chỉ thống; đau lạnh bụng dưới, có thể thêm Tiểu hồi hương, Ô dược, Nhục quế, Ngô thù du để tán hàn chỉ thống; cảm lạnh, có thể thêm Kinh giới, Phòng phong, Quế chi, Khương hoạt, Bạch chỉ, Tế tân, Thiên ma để trừ phong tán hàn; ho, đàm, có thể thêm Quất hồng, Thanh bán hạ, Phục linh, Tử uyển, Tiền hồ, Trúc lịch, nước gừng để hóa đàm chỉ khái; ợ chua, chán ăn, có thể thêm Thần khúc, Mạch nha, Sơn tra, Cốc nha để tiêu đạo thực tích; buồn nôn, nôn mửa, có thể thêm Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Hoắc hương, Bội lan, Tô diệp, Lá sen để hòa vị chỉ ẩu; đau rõ rệt khi ấn bụng dưới, có khối cứng, sản dịch không ra hết, có thể thêm am lăng, Nga truật, Tô mộc, Hồng hoa, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Diên hồ sách, Ích mẫu thảo để hoạt huyết phá huyết.
Nói năng lảm nhảm, có thể thêm toan Táo nhân, Bá tử nhân, Ích trí nhân, Phục thần, Tiểu mạch, Đại táo, Cam thảo chích để dưỡng Tâm an thần; giận dữ, có thể thêm Sài hồ, Hương phụ, Mộc hương, Trần bì, Phật thủ để sơ Can lý khí; huyết ứ công Tâm gây cuồng loạn, bỏ Bào khương, có thể thêm sừng trâu, Sinh địa, Xích thược, Đan bì, lá sen, Bạc hà, sinh Thủy điệt, Ngô công để thanh Tâm lương huyết, hoạt huyết thông lạc.
Sinh hóa thang là phương thuốc nổi tiếng do Phó Thanh Chủ sáng chế để trị chứng huyết ứ ở bụng dưới sau sinh. Không chỉ kế thừa và phát huy các phương thuốc trị huyết ứ ở bụng dưới của Trương Trọng Cảnh, mà còn có tác dụng gợi ý rất quan trọng cho phương thuốc Thiếu phúc trục ứ thang của Vương Thanh Nhậm. Để ứng dụng tốt Sinh hóa thang trong lâm sàng, cần chú trọng phúc chẩn, tránh chẩn đoán và điều trị sai các bệnh tình chí. Dù là phòng bệnh hay trị bệnh, không nên câu nệ vào chứng hư, chứng hàn, mà cần tuân theo tinh thần biện chứng luận trị, có tư duy sáng tạo và tiến bộ.
- PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH CHO NGƯỜI CÓ THỂ CHẤT KHÍ HƯ (02.01.2025)
- PHƯƠNG PHÁP DƯỠNG SINH CHO NGƯỜI CÓ THỂ CHẤT BÌNH HÒA (TRUNG TÍNH) (24.12.2024)
- QUAN NIỆM THỂ CHẤT TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN (20.12.2024)
- ĂN UỐNG ĐÚNG CÁCH THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN ĐỂ KHỎE MẠNH VÀ TRƯỜNG THỌ (19.12.2024)
- CHÂM CỨU ĐIỀU TRỊ TIỂU KHÔNG KIỂM SOÁT Ở NGƯỜI LỚN TUỔI (16.12.2024)
- NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI “Ở CỬ” (14.12.2024)
- ĐAU ĐẦU SAU SINH: NHÌN TỪ GÓC ĐỘ Y HỌC CỔ TRUYỀN (14.12.2024)
- BÍ QUYẾT Y HỌC CỔ TRUYỀN TRONG NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ (13.12.2024)
- ĐƯƠNG QUY - "NHÂN SÂM" CỦA PHỤ NỮ (12.12.2024)
- ĐAU NHỨC TOÀN THÂN SAU SINH (11.12.2024)




